BÀN VỀ CHỨC DANH, MÃ SỐ NGẠCH, TIÊU CHUẨN NGHIỆP VỤ CHUYÊN MÔN VÀ CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP CỦA CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NGÀNH VĂN THƯ, LƯU TRỮ

ThS. Bùi Minh Hoàng

Trong giai đoạn hiện nay việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều nội dung trong đó không thể thiếu được khâu tuyển dụng, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng. Để góp phần chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các quy định trong đó có quy định về các chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức, viên chức. Từ năm 1993, Nhà nước đã ban hành các quyết định quy định về chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn đối với những người làm công tác văn thư, lưu trữ. Điều này giúp cho các cơ quan quản lý có cơ sở để tuyển dụng, sử dụng công chức, viên chức phù hợp, đúng đối tượng đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên, đến nay do xu thế vận động của xã hội, một số đạo luật về cán bộ, công chức, viên chức ra đời nên các văn bản mới về chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức, viên chức văn thư, lưu trữ cũng phải thay đổi để đảm bảo phù hợp với việc quản lý, tuyển dụng và sử dụng đội ngũ những người làm công tác văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước giai đoạn hiện nay.

Điểm mới của những quy định hiện hành về chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn, chức danh nghề nghiệp của công chức, viên chức văn thư, lưu trữ

* Đối với công chức văn thư

Tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành văn thư là căn cứ để các cơ quan, tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ công chức chuyên ngành văn thư. Hiện nay, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 14/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 quy định về chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành văn thư. Thông tư này đã bãi bỏ Quyết định số 650/TCCP-VC ngày 20/8/1993 về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức quản lý văn thư - lưu trữ. Theo đó, các ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên và cán sự văn thư không còn được áp dụng. Thay vào đó chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành văn thư hiện nay gồm:

- Văn thư chínhMã số ngạch: 02.006;

- Văn thưMã số ngạch: 02.007;

- Văn thư trung cấpMã số ngạch: 02.008.

Thông tư này ra đời đã giải quyết tình trạng không thống nhất trong việc xếp lương công chức văn thư ở các cơ quan nhà nước. Sở dĩ có sự không thống nhất như vậy là bởi trước đây Quyết định số 650/TCCP-VC ngày 20/8/1993 về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức quản lý văn thư - lưu trữ có quy định các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp văn thư nhưng không có mã số ngạch và Quyết định số 78/2004/QĐ-BNV ngày 03/11/2004 của Bộ Nội vụ về việc ban hành danh mục các ngạch công chức và các ngạch viên chức có quy định các ngạch công chức hành chính trong đó có ngạch nhân viên văn thư (mã số ngạch 01.008). Do đó, có rất nhiều trường hợp công chức văn thư có trình độ trung cấp văn thư, lưu trữ và tương đương trở lên nhưng khi tuyển dụng lại xếp lương ở ngạch hệ số lương khởi điểm là 1,35; trong đó có nhiều người có trình độ đại học văn thư, lưu trữ được tuyển dụng vào vị trí văn thư nhưng vị trí này chưa có mã ngạch chuyên viên văn thư mà chỉ có nhân viên văn thư cho nên mặc dù trình độ cán sự hoặc cao hơn nhưng họ chỉ được hưởng hệ số lương khởi điểm của nhân viên văn thư là 1,35. Đây là thiệt thòi lớn mà những người làm công tác văn thư phải chịu trong nhiều năm qua.

Thông tư số 14/2014/TT-BNV có hiệu lực, đồng thời căn cứ Thông tư số 02/2007/TT-BNV ngày 25/5/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp lương khi nâng ngạch, chuyển loại, chuyển loại công chức, viên chức và Thông tư số 80/2005/TT-BNV ngày 10/8/2005 hướng dẫn thực hiện chuyển xếp lương đối với cán bộ, công chức, viên chức có trình độ cao đẳng phù hợp với chuyên môn đang làm, áp dụng bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang thì việc chuyển ngạch, xếp lương công chức văn thư có trình độ trung cấp văn thư và tương đương đang xếp ngạch Nhân viên văn thư, Cán sự văn thư thì được chuyển xếp ngạch Văn thư trung cấp (mã ngạch 02.008) hệ số lương từ 1,35 chuyển lên hệ số là 1,86; cao đẳng và tương đương (mã ngạch 02.007a) chuyển lên hệ số lương 2,10, đại học và tương đương (mã ngạch 02.007) là 2,34. Như vậy, Thông tư số 14/2014/TT-BNV ra đời, căn cứ vào các văn bản pháp luật đã ban hành trước đó thì cử nhân văn thư, lưu trữ mà được tuyển dụng vào vị trí văn thư chuyên trách ở các cơ quan sẽ chấm dứt tình trạng hệ số lương khởi điểm 1,35.

* Đối với viên chức lưu trữ

Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ là căn cứ để tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức chuyên ngành lưu trữ trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Ngày 31/10/2014, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 13/2014/TT-BNV quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ. Thông tư này đã thay thế Quyết định số 420/TCCP-CCVC ngày 29/5/1993 của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành lưu trữ. Đồng thời, bãi bỏ quy định về danh mục các ngạch viên chức chuyên ngành lưu trữ tại Quyết định số 78/2004/QĐ-BNV ngày 03/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành danh mục các ngạch công chức và các ngạch viên chức. Theo đó, các ngạch kỹ thuật viên lưu trữ và lưu trữ viên cao cấp không còn nữa mà chỉ còn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ, cụ thể có các hạng sau:

            - Lưu trữ viên chính (hạng II)

Mã số: V.01.02.01

            - Lưu trữ viên (hạng III)

Mã số: V.01.02.02

            - Lưu trữ viên trung cấp (hạng IV)

Mã số: V.01.02.03

So với Quyết định số 420/TCCP-CCVC thì Thông tư số 13/2014/TT-BNV đã xác định rõ 6 tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp, các nhiệm vụ, tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch viên chức lưu trữ hạng II, III và hạng IV. Đặc biệt, tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức lưu trữ hạng II và hạng III yêu cầu từ cao đẳng và đại học chuyên ngành văn thư, lưu trữ trở lên; nếu tốt nghiệp chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành lưu trữ. Đồng thời, Thông tư cũng quy định rõ điều kiện thăng hạng từ thấp lên bậc cao hơn trong các tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của từng hạng cụ thể.

Với những điểm mới được thể hiện trong văn bản pháp luật hiện hành đã giúp cho những người làm công tác văn thư, lưu trữ được khẳng định và xác lập vị trí một cách rõ ràng với những yêu cầu, tiêu chuẩn cụ thể, đồng thời cơ quan sử dụng lao động có cơ sở pháp lí để giải quyết các chế độ, chính sách cho những người làm công tác văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước giai đoạn hiện nay.

Một số vấn đề cần trao đổi liên quan đến những quy định về chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn, chức danh nghề nghiệp của công chức, viên chức văn thư, lưu trữ

Như đã trình bày ở trên cho thấy một số điểm mới trong những quy định hiện hành về chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn, chức danh nghề nghiệp của công chức, viên chức văn thư, lưu trữ. Tuy nhiên, trên thực tế cũng còn một số vấn đề cần trao đổi để làm rõ hơn những quy định liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi của những người làm công tác văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước. Chúng tôi xin được bàn thảo về một số vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, hiện nay, Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã quy định rõ:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cônglập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: những người làm việc ở Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước hay Chi cục Văn thư và Lưu trữ ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều gọi là công chức.

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: những người làm việc ở các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia hay các trường học, bệnh viện, trung tâm văn hóa… thì gọi làviên chức.

Trên thực tế ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập đều có những người làm công tác văn thư, lưu trữ. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì những người làm văn thư, lưu trữ trong cơ quan quản lý nhà nước thì được gọi là công chức văn thư, công chức lưu trữ; Những người làm công tác văn thư, lưu trữ trong các đơn vị sự nghiệp là viên chức văn thư, viên chức lưu trữ. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư số 13/2014/TT-BNV đã chỉ rõ đối tượng áp dụng là viênchức chuyên ngành lưu trữ làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 14/2014/TT-BNV xác định là công chức chuyên ngành văn thư làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Như vậy, hiện nay Nhà nước mới chỉ xác định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ các ngạch công chức văn thư; Mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức lưu trữ. Trên thực tế vẫn còn một bộ phận không nhỏ các công chức làm công tác lưu trữ ở các cơ quan bộ (Thông tư số 06/2015/TT-BNV ngày 08/12/2015 do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức vănthư, lưu trữ Bộ, cơ quan ngang Bộ), Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, các Chi cục Văn thư Lưu trữ địa phương… và viên chức làm công tác văn thư trong các đơn vị sự nghiệp công lập và chưa có văn bản quy định cụ thể mà hiện nay các cơ quan sử dụng lao động vẫn đang vận dụng trả lương theo thang bảng lương của công chức hành chính.

Thứ hai, trong nội dung Thông tư số 13/2014/TT-BNV và Thông tư số 14/2014/TT-BNV có quy định về tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng của công chức văn thư, viên chức lưu trữ phải tốt nghiệp chuyên ngành văn thư, lưu trữ; nếu tốt nghiệp chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành lưu trữ (trừ Lưu trữ viên trung cấp không quy định vấn đề này). Quy định này dường như có hướng mở cho những người có chuyên môn chưa phù hợp với công việc đảm nhận, tuy nhiên điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng (cho rằng không cần học văn thư, lưu trữ cũng làm được công việc này) và yêu cầu, tính chất chuyên môn, nghiệp vụ. Sở dĩ chúng tôi có nhận định như trên bởi vì nếu quy định như vậy thì không cần đào tạo đúng chuyên ngành văn thư, lưu trữ mà chỉ cần bồi dưỡng cũng có thể đảm nhận được công việc, nhưng thực tếvăn thư là một lĩnh vực nghiệp vụ, lưu trữ là một môn khoa học, cần phải được nghiên cứu, trang bị đủ khối lượng kiến thức khoa học như trong các chương trình đào tạo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thì mới có thể có đủ năng lực và trình độ chuyên môn tốt, có khả năng đáp ứng công việc tương đương ở mỗi vị trí khác nhau, và ngay chính trong Thông tư cũng quy định ở tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ là phải nắm vững lý luận, lịch sử và thực tiễn công tác lưu trữ Việt Nam…, tiêu chuẩn này sẽ khó có được nếu người làm lưu trữ chỉ đơn thuần tham gia các khóa bồi dưỡng ngắn hạn.

Thứ ba, Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 13/2014/TT-BNV quy định tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với Lưu trữ viên trung cấp (hạng IV) là tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành văn thư, lưu trữ. Như vậy, nếu tốt nghiệp ngành khác thì không đủ tiêu chuẩn xếp hạng Lưu trữ viên trung cấp, còn ở hai hạng Lưu trữ viên và Lưu trữ viên chính nếu tốt nghiệp ngành khác thì có thể tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ chuyên ngành là đủ tiêu chuẩn xếp hạng. Điều này có vẻ như chưa có tính hệ thống và chưa thực sự thống nhất.

Thứ tư, nếu như Thông tư số 13/2014/TT-BNV và Thông tư số 14/2014/TT-BNV quy định tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với các hạng chức danh nghề nghiệp lưu trữ và chức danh văn thư là phải có bằng tốt nghiệp chuyên ngành hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành văn thư, lưu trữ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cầnxây dựng và ban hành chương trình bồi dưỡng văn thư, lưu trữ để đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với những người chưa được đào tạo ngành văn thư, lưu trữ. Đồng thời, cũng cần quy định các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được tham gia bồidưỡng cho những người chưa đủ tiêu chuẩn và cấp các loại chứng chỉ này cho các học viên tham gia khóa bồi dưỡng. Có như vậy mới có thể đảm bảo trình độ đào tạo, bồi dưỡng cũng như năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của những người làm công tác văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước hiện nay.

Trên đây là một số nội dung về các điểm mới liên quan đến chức danh, ngạch và các tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đối với những người làm công tác văn thư, lưu trữ cũng như một số vấn đề băn khoăn của tác giả đối với các chế độ, chính sách liên quan đến nhóm đối tượng này. Đồng thời, xin được chia sẻ, tiếp nhận các ý kiến quan tâmđể làm rõ hơn các chính sách, chế độ mà họ đang thụ hưởng. Hy vọng trong thời gian tới đội ngũ những người làm công tác văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước được quan tâm, động viên khích lệ bằng các chế độ ngoài lương góp phần tăng thêm thu nhập, đảm bảo đời sống vật chất cũng như khẳng định vị trí, vai trò không thể thiếu được đối với hoạt động của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào trong hệ thống bộ máy nhà nước của Việt Nam hiện nay./.

Tin tức trong trường

VIẾT VỀ TẤM GƯƠNG NHÀ GIÁO

(Cô giáo Bùi Thị Nhật Hương- Giảng viên khoa cơ bản) Người viết: Thang Thị Thanh Hiệp Giảng ...

BÀN VỀ CHỨC DANH, MÃ SỐ NGẠCH, TIÊU ...

ThS. Bùi Minh Hoàng Trong giai đoạn hiện nay việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, ...

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI ...

Nguyễn Thị Lan Anh, Khoa Nông Lâm Thực hiện Quyết định 791/ QĐ-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2016 của ...

Giảng viên tiếng Anh trường CĐCĐ Lào ...

 GV: Hoàng Thu Hương     Bộ môn Ngoại ngữ, Khoa Cơ bản   Thực ...

Thư viện điện tử

thuvienso

Top

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %