CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ THƯƠNG MẠI TRONG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI - WTO

ThS Nguyễn Thị Lan Phương – GV Khoa Kinh tế

Toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều  quốc gia trên cơ sở tạo ra một sân chơi tự do và công bằng. Bên cạnh cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế, giao lưu với nhiều nước trên thế giới, mỗi quốc gia cũng phải đương đầu với rất nhiều thách thức, khó khăn, đặc biệt là những tác động tiêu cực do cạnh tranh gây ra, đây cũng chính là bài toán hóc búa đặt ra cho rất nhiều quốc gia. Do vây, tiền thân của tổ chức thương mại thế giới là GATT đã đi tiên phong trong việc đề ra biện pháp tạo điều kiện cho ngành sản xuất trong nước có cơ hội điều chỉnh để tồn tại và phát triển, tránh những tồn tại nghiêm trọng khi tham gia vào tự do hoá thương mại. Đó chính là cơ chế tư vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu.

Tự vệ thương mại là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. “Thiệt hại nghiêm trọng” là sự giảm sút đáng kể về vị thế của ngành công nghiệp trong nước. Để xác định có hay không thiệt hại nghiêm trọng cần phải căn cứ vào các chỉ tiêu như: lượng hàng hoá nhập khẩu tăng tuyệt đối cũng như tương đối, mức độ tăng thị phần nhập khẩu của thị trường trong nước, hay sự giảm sút về doanh số, số lượng, hiệu suất, hệ số sử dụng, công suất, lợi nhuận, lỗ lãi và việc làm của ngành sản xuất nội địa. Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ.

1. Các biện pháp tự vệ thương mại

Theo điều XIX và Hiệp định về các biện pháp tự vệ của WTO quy định một quốc gia có quyền lựa chọn 1 trong các biện pháp tự vệ sau: (1) Tăng mức thuế đã cam kết vượt lên trên mức thuế trần (biện pháp thuế quan); (2)Áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng như hạn ngạch (biện pháp phi thuế quan); (3) Các công cụ khác: Một số biện pháp phi thuế quan khác mà các quốc gia có thể áp dụng là cấm nhập khẩu, cấp giấp phép nhập khẩu hay phụ thu đối với hàng nhập khẩu…Các biện pháp này thường mang tính chủ quan của nước nhập khẩu với mục đích bảo hộ nền sản xuất nội địa nên WTO coi những biện pháp này làm hạn chế rõ rệt tác dụng của tự do thương mại và yêu cầu xoá bỏ thay vao đó là các biện pháp hạn ngạch hoặc hạn ngạch thuế quan.

2. Điều kiện chung áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại

Theo các văn bản của WTO quy định như sau: Một quốc gia chỉ được quyền áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại nếu xét thấy đã hội đủ các điều kiện sau:

(1) Phải có sự gia tăng đột biến về lượng hàng hoá nhập khẩu vào thị trường nội địa. Sự gia tăng hàng hoá nhập khẩu dẫn đến áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại được xác định dựa vào một số tiêu chí cụ thể: đó là sự gia tăng một cách một cách tương đối hay tuyệt đối về sản lượng số lượng hay giá trị của loại hàng hoá đó so với số lượng, khối lượng hay giá trị của hàng hoá tương tự hay hàng hoá cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước.

(2) Việc gia tăng hàng hoá nhập khẩu đó phải gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa. Việc xác định tổn hại dựa trên kết quả điều tra theo đó cơ quan chức năng đánh giá những yếu tố kinh tế có liên quan dến tình hình sản xuất của ngành này gồm: Tốc độ và sản lượng gia tăng nhập khẩu của sản phẩm liên quan một cách tuyệt đối hay tương đối; Lượng gia tăng nhập khẩu lấy đi bao nhiêu % thị phần trong nước; Sự giảm sút thực tế về sản lượng, doanh số, thị phần, lợi nhuận, năng suất, tỉ suất đầu tư; Tác động đến thị trường lao động. Việc điều tra sẽ do một cơ quan chuyên trách ở mỗi quốc gia đảm nhiệm. Tuy nhiên, nếu như xét thấy bất kì một sự trì hoãn nào có thể làm cho tình hình trở nên trầm trọng hơn và khó phục hồi, các quốc gia có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời mà chỉ dựa vào những dấu hiệu ban đầu cho thấy có thiệt hại nghiêm trọng bắt nguồn từ gia tăng nhập khẩu, không cần đợi kết quả điều tra, biện pháp này chỉ kéo dài tối đa 200 ngày và được áp dụng dưới hình thức tăng thuế suất. Khoảng thời gian áp tự vệ tạm thời cũng sẽ được tính vào tổng thời gian áp dụng tự vệ thương mại. Nếu sau này kết quả cho thấy không đủ điều kiện áp dụng tự vệ thương mại thì các bên sẽ phải hoàn trả cho nhau ngay lập tức khoản thuế gia tăng đã thu được.

(3) Sự gia tăng về số lượng hàng hoá nhập khẩu đó phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra những thiệt hại nói trên. Một quốc gia sẽ không thể áp dụng được các biện pháp tự vệ thương mại nếu như không chứng minh được rằng có tồn tại bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ nhân quả giữa lượng nhập khẩu gia tăng đột biến của loại hàng hoá có liên quan với thiệt hại nghiêm trọng gây ra. Việc chứng minh mối quan hệ này có thể dựa trên sự tương quan về thời gian xảy ra việc tăng lượng hàng hóa nhập khẩu tăng và thời gian xảy ra thiệt hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu có những yếu tố khác không phải là gia tăng nhập khẩu, cùng trong thời gian đó gây ra tổn hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây ra tổn hại thì không thể suy diễn là thiệt hại đó là do việc hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh. Điều này đồng nghĩa là các nhân tố gây thiệt hại cần phải được phân biệt và làm rõ, từ đó tạo nên giới hạn cho việc áp dụng tự vệ thương mại.

3. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại của WTO

(1) Nguyên tắc không phân biệt đối xử, đây là nguyên tắc cơ bản của WTO. Tự vệ thương mại cũng cần tuân thủ nguyên tắc này; theo đó các biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng với mọi sản phẩm nhập khẩu không phân biệt nguồn gốc xuất xứ hàng hóa. Đối tượng điều tra để áp dụng tự vệ thương mại cũng phải là toàn bộ hàng nhập khẩu chứ không phải hàng hóa từ một nước cụ thể. Hiệp định về tự vệ thương mại của WTO đưa ra một ngoại lệ yêu cầu: Nước nhập khẩu khi áp dụng biện pháp tự vệ dưới hình thức hạn chế số lượng thì phải tham khảo ý kiến của các nước thành viên khác có lợi ích đáng kể liên quan đến hàng hóa bị áp dụng tự vệ thương mại để đưa ra tỷ lệ phân bổ hạn ngạch.

(2) Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại trong phạm vi và mức độ cần thiết: Mục đích chính của tự vệ thương mại là để giúp nền công nghiệp trong nước có thời gian để điều chỉnh cơ cấu, khắc phục thiệt hại và đứng vững trong cuộc cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài. Do vậy nước nhập khẩu chỉ được áp dụng tự vệ thương mại ở giới hạn cần thiết và chỉ nhằm để ngăn cản hay khắc phục những thiệt hại do lượng nhập khẩu tăng đột biến gây ra và nhằm tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nội địa chứ không phải nhằm bất kỳ mục đích nào khác. Áp dụng tự vệ thương mại không phải để hạn chế cạnh tranh, do vậy nó chỉ được áp dụng trong một thời gian nhất định. Theo WTO, thời hạn áp dụng tối đa là 4 năm. Trong trường hợp cần thiết, có thể được gia hạn thêm một lần nhưng không quá 4 năm tiếp theo. Đối với các nước đang phát triển, có thể được ưu đãi gia hạn với thời gian không quá 6 năm tiếp theo. Tuy nhiên, ngay cả trong thời hạn áp dụng, nếu những điều kiện cho sự tồn tại của nó không còn nữa thì nước áp dụng tự vệ thương mại phải dỡ bỏ ngay hoặc đình chỉ biện pháp tự vệ đang được áp dụng với hàng hóa đó. Trong thời gian áp dụng tự vệ thương mại nước nhập khẩu phải tiến hành rà soát các biện pháp tự vệ để đảm bảo quyền lợi cho nước bị áp dụng đồng thời cũng để cho việc luân chuyển hàng hóa diễn ra bình thường.

(3)Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại:Khác với các biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh do hành động bán phá giá hay trợ cấp của Chính phủ, một nước thành viên khi áp dụng biện pháp tự vệ phải đảm bảo đền bù thỏa đáng cho nước bị áp dụng tự vệ thương mại. Việc đền bù này thường thông qua việc giảm thuế cho một số mặt hàng có lợi ích xuất khẩu cho nước bị áp dụng tự vệ thương mại. Mức độ đền bù phải tương đương đáng kể. Nếu các bên không thể thỏa thuận được mức độ bồi thường tương xứng thì các nước bị áp dụng tự vệ thương mại có thể áp dụng các biện pháp trả đũa. Tuy nhiên, quyền thực hiện trả đũa thương mại chỉ có thể tiến hành sau 3 năm kể từ khi biện pháp tự vệ thương mại thực hiện.

(4) Nguyên tắc ưu tiên cho các nước đang phát triển WTO thừa nhận cần phải có sự cần thiết phải dành cho những nước đang và chậm phát triển những điều kiện thuật lợi hơn trong thương mại quốc tế, dành cho các nước này những chế độ đãi ngộ đặc biệt và khác biệt trong thương mại quốc tế mà không yêu cầu có đi có lại trong các cam kết. Điều 9 Hiệp định về tự vệ thương mại của WTO quy định: Các biện pháp tự vệ thương mại không được áp dụng với hàng hóa có nguồn gốc từ một nước thành viên đang phát triển nếu như thị phần xuất khẩu hàng hóa của nước này tại nước nhập khẩu không vượt quá 3 %. Hoặc nếu có nhiều nước thành viên đang phát triển có thị phần từng nước dưới 3% và tổng thị phần của các nước này không lớn hơn 9 % thì không bị áp dụng tự vệ thương mại. Về phần mình, một nước thành viên đang phát triển lại có quyền mở rộng thời hạn áp dụng tự vệ thương mại với nước khác thêm 2 năm nữa so với thời hạn tối đa được áp dụng tự vệ thương mại thông thường là 8 năm

4. Thực tế áp dụng tự vệ thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế và bài toán đặt ra cho Việt Nam

Theo kết quả tổng hợp các vụ tranh chấp về biện pháp phòng vệ thương mại và theo báo cáo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tính đến hết năm 2015, trong tổng số 155 trường hợp áp dụng biện pháp tự vệ của các quốc gia thành viên WTO có đến 46 trường hợp (chiếm tỷ lệ gần 30%) làm phát sinh tranh chấp giữa quốc gia nhập khẩu (bên tự vệ) và các nước xuất khẩu có hàng hóa bị áp dụng biện pháp tự vệ.

SỐ LIỆU CÁC VỤ TỰ VỆ THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG

(Nguồn: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI)

Trong số đó, có đến 25 (chiếm trên 50%) trường hợp nguyên đơn thắng kiện và bị đơn phải điều chỉnh hoặc gỡ bỏ toàn bộ biện pháp tự vệ áp dụng đối với hàng hoá của nguyên đơn. Vụ kiện “Mỹ - Các biện pháp tự vệ đối với một số mặt hàng thép nhập khẩu” được xem là tranh chấp có quy mô lớn, tính chất phức tạp và thu hút sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

(Nguồn: Internet)

Ngày 28/6/2001, Ủy Ban Thương Mại Quốc Tế Mỹ (United States International Trade Commission - USITC) đã khởi xướng điều tra tự vệ theo đề nghị của Cơ Quan Đại Diện Thương Mại Mỹ (United States Trade Representative - USTR) nhằm xác định liệu có hay không tình trạng gia tăng các sản phẩm thép nhập khẩu vào Mỹ gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến ngành sản xuất nội địa. 
Ngày 5/3/2002 sau khi kết thúc cuộc điều tra, Tổng thống Mỹ George W. Bush đã tuyên bố quyết định áp dụng biện pháp tự vệ (tăng thuế quan nhập khẩu) đối với 15 mặt hàng thép theo khuyến nghị của USITC. Công bố này ngay lập tức gây chú ý và Mỹ phải đón nhận làn sóng phản ứng mạnh mẽ từ nhiều quốc gia thành viên.

Chỉ hai ngày sau khi quyết định tự vệ của Mỹ được công bố, Liên minh Châu Âu đã đệ đơn kiện Mỹ theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (mã vụ kiện: DS248), cáo buộc Mỹ vi phạm quy định tại Điều XIX Hiệp định Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994); Điều 2.1, 3.1, 4.1(c), 4.2, và 5.1 Hiệp định về các biện pháp tự vệ 1995

Chưa đầy ba tháng, sau ngày công bố quyết định tự vệ của Mỹ, bảy nước khác cũng đồng loạt đệ đơn khởi kiện Mỹ vì đã áp dụng biện pháp tự vệ khi không đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại GATT 1994 và Hiệp định về các biện pháp tự vệ 1995, cụ thể bao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy Sỹ, Na Uy, NewZealand và Brazil

Sau hơn một năm xem xét vụ việc, Ban hội thẩm (Panel) của WTO đã ban hành báo cáo dưới dạng một tài liệu gồm tám báo cáo thành phần liên quan đến tám vụ kiện độc lập nêu trên. Sau ba tháng thụ lý và xem xét vụ việc, Cơ quan Phúc thẩm đã ban hành báo cáo theo hướng tán thành kết luận cuối cùng của Ban hội thẩm, cho rằng các biện pháp tự vệ mà Mỹ áp dụng đã vi phạm các quy định của WTO. 
Tại cuộc họp ngày 10/12/2003, Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo của Ban hội thẩm do Cơ quan Phúc thẩm sửa đổi. Cũng trong cuộc họp này, Mỹ thông báo với các thành viên rằng vào ngày 4/12/2003, Tổng thống Mỹ đã ban hành tuyên cáo xóa bỏ tất cả các biện pháp tự vệ được nêu trong vụ kiện theo quy định tại Mục 204 của Bộ luật Thương mại Mỹ 1974.

Vụ kiện “Mỹ - Các biện pháp tự vệ đối với một số mặt hàng thép nhập khẩu” là ví dụ tiêu biểu cho hậu quả pháp lý mà quốc gia nhập khẩu phải gánh chịu khi áp dụng biện pháp tự vệ mà chưa thể chứng minh một cách thuyết phục về việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện tự vệ theo quy định của WTO.

Tháng 12/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ trước đến nay. Bên cạnh cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế, giao lưu với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng phải đương đầu với rất nhiều thách thức. Có lẽ khó khăn lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt đó là những tác động tiêu cực do cạnh tranh gây ra, nhất là trong bối cảnh năng lực cạnh tranh của nhiều ngành sản xuất nội địa Việt Nam còn rất yếu kém. Tuy nhiên, trong khi nhiều quốc gia đã nhận thức được tầm quan trọng của các biện pháp tự vệ và có những cách vận dụng khác nhau thì tại Việt Nam, việc áp dụng cơ chế này vẫn còn  mới mẻ. Trong trường hợp Việt Nam sử dụng quyền tự vệ một cách tùy tiện khi chưa có sự chứng minh và giải thích tường tận về mọi điều kiện mà luật pháp quốc tế đã thiết lập, Việt Nam sẽ có thể phải đối diện với hàng loạt khó khăn khi bị nước khác khởi kiện vì biện pháp tự vệ thường áp dụng toàn cầu cho mọi quốc gia xuất khẩu.  Do vậy, trong quá trình áp dụng cần tìm cách giới hạn những tác động tiêu cực không mong muốn để tư vấn thương mại trở thành công cụ hữu ích giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn , rộng hơn, hiệu quả hơn vào hội nhập kinh tế quốc tế, không ngừng đưa nền kinh tế Việt Nam theo kịp các cường quốc trên thế giới. Đây cũng là bài toán hóc búa đặt ra cho Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1. Marc L, Eric R và Gregory S. (2008), Does Legal Capacity Matter? Explaining Dispute Initiation and Antidumping Actions in the WTO, Phòng Giải quyết tranh chấp và các Khía cạnh pháp lý quốc tế của ICTSD;

2. Trung tâm WTO (2015), Báo cáo “Sử dụng các công cụ PVTM trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTAs và Cộng đồng kinh tế ASEAN”.

3. Tạp chí Tài chính kỳ II tháng 12/2016

4. Bộ công thương, Cục quan lý cạnh tranh, “Hội thảo phổ biến kiến thức về pháp luật phòng vệ thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” tại Lào Cai ngày 14/7/2017

5. http://www.trungtamwto.vn/wto/hiep-dinh-ve-cac-bien-phap-tu-ve

6. http://www.chongbanphagia.vn



Tin tức trong trường

CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG ...

Đinh Quang Hòa - Phó Trưởng Phòng Công tác HSSV Thực hiên Kế hoạch số 234/KH-UBND ngày 31/8/2017 ...

ÁP DỤNG MỨC ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI MỚI ...

Ths Hà Thị Thu Nga- GV khoa Kinh tế Bảo hiểm xã hội đang là mối quan tâm hàng đầu vì nó thể hiện ...

CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ THƯƠNG MẠI TRONG ...

ThS Nguyễn Thị Lan Phương – GV Khoa Kinh tế Toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự ...

“CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA” TIẾT GIẢNG MỞ MÀN ...

Ths Trần Thanh Hà - GV Khoa Kinh tế Sáng ngày 7/11/2017, Hội giảng Nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ...

Thư viện điện tử

thuvienso

Top

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %